MỜI QUÝ VỊ TRUY CẬP WEBSITE MỚI TẠI ĐỊA CHỈ:http://nguyenvantroi.pgdtamky.edu.vn
Gốc > Giới thiệu sách thư viện >

Sống Như Anh - Văn Chương Một Thời Để Nhớ

Tác giả: Trần Đình Vân.
Nhà xuất bản: Nxb văn học
Giới thiệu về nội dung
Sống Như Anh - Văn Chương Một Thời Để Nhớ:
Con người Nguyễn Văn Trỗi luôn luôn có thái độ anh hùng, bình tĩnh và cũng rất thông minh trong mọi trường hợp phải đối phó với những thủ đoạn tàn ác cũng như lừa bịp mua chuộc của kẻ thù. Con người đó luôn luôn biểu lộ một phẩm chất đặc biệt, rất vững vàng, không một lúc nào, cũng không một câu nói nào tỏ ra là người công nhân dũng cảm đó cảm thấy mình đứng thấp hơn kẻ địch, cảm thấy mình bị lỗi lầm, cảm thấy mình có gì hồi tiếc trong cuộc đời chiến đấu của mình. Ngay cả những lúc bị tra tấn, bị đè xuống đất, bị điện giật lăn ra, ngay cả những lúc chân anh bị thương tật không đứng vững nữa, con người đó, trước mắt kẻ địch, lúc nào cũng giữ được một tư thế rất hiên ngang.

Nếu chỉ kể riêng về anh Trỗi thôi quyển sách cũng đủ đẹp, bởi vì nó rất thực, nó cho chúng ta hiểu được con người ấy đã sống, suy nghĩ và hành động như thế nào đối với kẻ địch, yêu thương như thế nào đối với đồng chí mình, giai cấp mình. Nhưng quyển truyện không chỉ nói về anh. Chúng ta mong tìm thấy trong truyện này không phải chỉ là con người, chỉ là câu chuyện về một con người; một cá nhân, dù cho cá nhân đó anh dũng đến mức nào, đẹp đẽ đến mức nào. Điều chúng ta muốn biết nhiều hơn là cái gì đã tạo ra con người ấy. Nếu nói về một con người, chúng ta muốn hiểu con người đó sống và suy nghĩ như thế nào đã đành, chúng ta lại muốn hiểu con người ấy tìm thấy sức mạnh của mình ở chỗ nào, và đây mới là điều quan trọng hơn cả. Chúng ta muốn hiểu tập thể anh hùng nào đã đẻ ra những cá nhân anh hùng. Thật ra, không bao giờ chúng ta hiểu được một con người thật là anh hùng nếu chỉ biết riêng người đó. Người anh hùng, người anh hùng mới của thời đại chúng ta chỉ có thể có trong những tập thể vĩ đại. Bởi vì chủ nghĩa anh hùng của chúng ta là chủ nghĩa anh hùng cách mạng, chủ nghĩa anh hùng quần chúng. Và cũng chỉ có chủ nghĩa anh hùng đó mới có giá trị lớn, có sức chiến đấu, có sức chiến thắng mạnh mẽ. Cuộc đấu tranh cách mạng của chúng ta là sự nghiệp của quần chúng, sự nghiệp ấy đầy đau thương, hy sinh gian khổ nhưng nhất định thắng và thực tế là đang thắng. Cho nên chúng ta muốn tìm thấy hình dáng những con người quần chúng trong thực tế đang chiến thắng và nhất định chiến thắng...

"Sống như anh" thật là một thiên anh hùng ca lớn, một bài ca lớn của dân tộc ta, của đồng bào miền Nam, trong thời đại hiện nay, thời đại cách mạng chống chủ nghĩa đế quốc, đặc biệt là chống đế quốc Mỹ. Nó sẽ góp phần không nhỏ cắt nghĩa thêm cho chúng ta và cắt nghĩa thêm cho những ai chưa hiểu vì sao chúng ta dám đánh và có thể đánh thắng đế quốc Mỹ, như chúng ta đã giành được thắng lợi hiện nay.

Mời bạn đón đọc.

Nhắn tin cho tác giả
Trịnh Ngọc Thanh @ 06:38 25/07/2009
Số lượt xem: 1622
Số lượt thích: 0 người
Avatar

“Sống như anh” – sống mãi một tình yêu


Tấm thiệp cưới chị Quyên còn giữ lại

19 ngày hạnh phúc và 43 năm thương nhớ – Mối tình đẹp tiếp nối quá khứ.

 

19 ngày hạnh phúc và 43 năm thương nhớ

Anh Trỗi đã hy sinh 43 năm, nhưng khi chị ra đường, kể cả khi đi với chồng, con, nhiều người vẫn nói: “Chị Quyên – vợ anh Trỗi đấy”.

Chị bảo, mấy chục năm qua chị sống gần như hai cuộc đời, một cuộc đời dành cho quá khứ đã thành “danh từ chung”, một cuộc đời dành cho hiện tại, tổ ấm riêng thầm lặng của mình. Làm thế nào để chu toàn được, không để cái nọ làm ảnh hưởng hay tổn thương cái kia và ngược lại, là một điều không đơn giản…

Chị giờ đã nghỉ hưu, trong một căn hộ khá khang trang trên đường Trần Ngọc Diện, quận 2, TP HCM. Sau tiếng chuông, người phụ nữ tóc hai màu ra mở cửa. Tôi vẫn nhận ra nét cười của chị Quyên năm nào trong bức ảnh đăng trên báo và trong cuốn “Sống như Anh” của Trần Đình Vân.

Nét cười ấy vẫn còn giữ lại vẻ tươi tắn, dù khóe mắt đã hiện hữu nhiều dấu ấn của thời gian. Chị bảo rằng, khi còn sống, anh Trỗi rất thích mỗi lần ngắm chị cười. Rồi chị đếm từng đốt ngón tay: “Thế mà cũng đã 43 năm, chẳng biết là thời gian trôi nhanh hay là trôi chậm”.

Tôi hiểu phần nào những gì chị nói. 43 năm, hơn nửa cuộc đời một con người, nhanh đấy nhưng cũng chậm đấy. Nói rồi chị dẫn tôi lên lầu thắp hương cho anh Trỗi. Bước chân chị như nặng hơn, chầm chậm trên những bậc cầu thang.

“Góc của anh Trỗi” (theo cách gọi của chị), được hương khói thường xuyên. Tấm ảnh anh thời trẻ với nét nhìn nghiêm nghị. Chị thắp hương và khấn anh, rồi im lặng ngắm tấm ảnh cũ, như thể anh vẫn còn hiện hữu một con người bằng xương bằng thịt trong căn phòng này.

“Góc của anh Trỗi” thực ra vẫn còn nữa, trên chiếc tủ của chị, với những bức ảnh và những kỷ vật về anh, cứ năm bữa nửa tháng chị lại lau những hạt bụi trên khung kính. Và “góc” riêng ấy, vẫn còn ở một nơi thẳm sâu hơn – trong cuộc sống của chị mấy chục năm qua. Người về với cát bụi, người ở lại vẫn còn gìn giữ những gì thiêng liêng nhất của một tình yêu thủy chung son sắt và hơi ấm của hạnh phúc dù chỉ vỏn vẹn 19 ngày.

“Mọi người biết đến anh Trỗi là một anh hùng, biết đến tôi từng là vợ của người anh hùng đó. Nhưng khi yêu anh, anh thực là anh hùng. Hạnh phúc ngắn ngủi với 19 ngày nhưng sống trong tôi. Đó là hạnh phúc với những điều bình dị nhất, những quan tâm cụ thể nhất của người chồng dành cho vợ” – chị nói.

Bởi vậy, những gì chị kể về anh Trỗi, là những chuyện “con người” nhất của một người đàn ông bình thường. Có gì khó hiểu đâu, một người trước và sau khi thành một anh hùng, họ là một người bình thường.

Chị biết và yêu anh Trỗi khi chị tròn 20 tuổi, anh hơn chị 1 tuổi. Lúc đó chị là công nhân của Hãng bông Bạch Tuyết, anh là công nhân điện. Chị bảo, đến giờ hình ảnh anh ngày đầu đón chị khi tan ca vẫn cứ như đang đâu đây chứ chưa xa đến thế, chưa xa đến những 45 năm rồi đâu… Anh mặc cái quần loe màu xanh đã bạc. Chiếc áo trắng cắm thùng. Chùm chìa khóa to tướng treo lủng lẳng bên dây lưng. Anh kiệm lời, chỉ hỏi thăm chị về những gì cụ thể nhất như ngủ khi mấy giờ, công việc ra sao, có hay làm tăng ca không…

Ngay cả những bức thư anh gửi chị, cũng rất ngắn, không một từ “nhớ thương” nào cả mà chỉ nhắc nhở: “Em phải uống đủ mỗi ngày hai lít nước. Uống nước nhiều sẽ chống táo bón và bài tiết những chất độc, chất thải trong người ra. Ăn cơm xong mới được húp canh. Chan canh cùng cơm, khi ăn sẽ nhai không kỹ, rất dễ đau bao tử…”.

Chị “kể tội” anh với nét vui cười trở lại: anh hay “bắt nọn” và hơi “âm lịch” nữa.

Chỗ chị làm là một hãng bông tư nhân nên thời gian nghỉ không nhiều. Những khi đóng gói hàng để chuẩn bị xuất đi, phải làm tăng ca hoặc làm luôn cả ngày chủ nhật. Bình quân mỗi tháng, chị được nghỉ hai ngày.

Một lần anh sang vào ngày nghỉ, không thấy chị, anh lẳng lặng ra về. Ngày nghỉ của tuần tới, chị đến chỗ anh. Vừa gặp anh đã phủ đầu: “Chủ nhật tuần trước em đi chợ Bến Thành với anh nào à?”. “Đâu, em ở nhà ngủ vì tối hôm thứ bảy làm tận 2 giờ sáng, rất mệt”. “Sao thằng Hứa nó bảo nó nhìn thấy một anh nào chở thím đi chợ Bến Thành?”.

Đúng lúc ấy Hứa về. Chị hỏi Hứa có nhìn nhầm không, Hứa không biết đầu cua tai nheo gì mà nhầm với không nhầm. “Sao chú Tư bảo là cháu nói cháu nhìn thấy thím đi chợ với người đàn ông nào đó?”. “Cháu đâu có nói gì. Hôm đấy cháu có ra đường đâu. Chắc chú nghe nhầm”.

Anh Trỗi cười vui, ngồi bẻ ngón tay lia lịa trong khi chị bắt đầu giận đùng đùng. “Thì anh cứ nói vậy để thử xem em có đi với ai không” – anh vừa dứt lời thì chị bỏ về. Mặc dù anh đi theo năn nỉ nhưng chị vẫn đi và giận anh những hai tuần lễ.

“Đấy. Cái nết của tôi đến giờ vẫn không sửa nổi, là hay tự ái” – chị vui vẻ nói. Hơn một năm yêu nhau để rồi đi đến làm đám cưới, chị nhớ là đã giận anh đến cả chục lần. Và việc tổ chức đám cưới nhanh như vậy, một phần, cũng sợ những sự giận dỗi kia làm ảnh hưởng đến tình cảm hai người. Cưới nhau, chị về căn phòng nhỏ của anh, trong một con hẻm ở Phú Nhuận.

Chị bảo: “Anh Trỗi dù rất quan tâm chăm sóc vợ nhưng việc gì của đàn ông anh ấy mới làm. Những việc của phụ nữ, ví dụ như mắc màn, chẳng bao giờ anh ấy làm cả”.

Có một lần anh xin mấy cái hộp gói quà cưới của chị rồi xếp những thỏi pin nhỏ vào làm bình điện. Còn bình điện để làm gì, sử dụng vào mục đích gì anh cũng không nói.

Ngày 9/5/1964, khi cưới nhau tròn 19 ngày, anh vẫn chở chị đi làm như mọi khi. Nhưng chỉ có khác là chiều hôm đó chị chờ mãi ở góc đường chẳng thấy anh đâu, cuối cùng chị đi nhờ xe về nhà. Khi về tới nhà, thấy hàng xóm đồn đại là anh đã bị bắt. Chị buồn bã nằm một chỗ chẳng thiết ăn uống gì. Sáng hôm sau, chúng giải anh về nhà để tìm xem trong nhà có giấu bom mìn gì không và chúng bắt chị vào nhà giam.

Chị bị giam ở phòng giam số 3. Trong phòng đó có 2 phụ nữ nữa. Thấy chị khóc, một người mới hỏi chị thực hư làm sao mà bị bắt. Sau khi nghe chị kể, nữ tù nhân đó giải thích cho chị nghe về việc làm của anh Trỗi. “Anh ấy làm một việc chính nghĩa, không quản mạng sống để đánh bọn cướp nước. Em hãy tự hào về anh ấy. Rồi một thời gian dài nghe giải thích và chuyện đồng bào bị bắt bớ giết hại làm sao, chị mới cảm nhận được ý nghĩa của việc chồng mình làm”. Nữ tù nhân ấy về sau trở thành Phó Chủ tịch nước, đó là bà Trương Mỹ Hoa.

Giam giữ chị một thời gian không khai thác được gì, chúng đành phải thả. Chị được cấp phiếu thăm nuôi anh vào ngày 15 và 30 hàng tháng. Khi anh vào khám tử hình, chị chỉ gặp anh 3 lần. Mỗi lần gặp, anh vẫn tỏ ra bình thường. Anh nói ngắn gọn với chị, tổ của anh có 4 người nhưng 2 người thoát được. Anh và Tư Lời bị bắt. Thương Tư Lời còn trẻ, anh nhận hết tội về phía mình và khai rằng, Tư Lời là do anh thuê kéo dây nổ chứ không dính líu gì cả. Cuối cùng địch tuyên phạt anh mức án tử hình và Tư Lời 20 năm tù giam.

Lần gặp thứ hai, anh bảo chị yên tâm, địch chỉ kêu án như vậy chứ chúng có thể sẽ không xử. Anh bảo chị nên mua canxi uống cho bổ xương, ăn uống điều độ và phải uống nhiều nước. Anh còn dặn chị mua len vào trong khám cho anh thêu, vì trong này anh em hay thêu khăn lắm. Và những lần gặp đó, anh không hề biết chị đã mang trong mình giọt máu của anh.

Còn lần gặp gỡ thứ ba, đó là một nỗi ám ảnh lớn nhất trong cuộc đời chị. “Em có hình dung ra được một người phụ nữ mới lấy chồng được 19 ngày, chồng bị tù tội, rồi bị giết và chị phải đi tìm thi thể rồi tìm mộ anh hết nơi này đến nơi nọ?”. Câu hỏi của chị khiến tôi cảm thấy quá nặng nề và không sao có thể tưởng tượng ra được.

Một anh Trỗi hào hùng giữa pháp trường và trong sử sách. Một người con gái lang thang hết nghĩa trang này đến nghĩa trang nọ tìm người đã khuất. Quá khứ bi hùng như thế đúng là không bao giờ quên được. Bởi trong quá khứ có cả máu và nước mắt.

Tạm gọi là lần gặp gỡ cuối cùng, nhưng thực tế, lần đó chị không gặp được anh. Bình thường, khi vào thăm nuôi, chị chỉ xuất trình giấy ở cổng ngoài rồi vào trong chờ chúng giải anh ra. Nhưng lần này, chị vào trong, chúng bảo chị ra cổng ngoài nộp lại giấy thăm nuôi rồi vào phòng đợi.

Một lúc sau, chúng gọi chị vào và bảo chị, hôm nay trung tâm cải huấn này đón khách đặc biệt nên buổi sáng không thăm nuôi được mà phải hẹn đến chiều. Chị lặng lẽ ra về.

Khi bước ra, chị thấy một tiểu đội quân cảnh đang mang súng đứng nghiêm. Chị bước thêm vài bước thấy có một chiếc xe chở cái quan tài đang đi gần lại, chị thấy rờn rợn. Đi vài bước nữa, thấy cánh phóng viên đang đứng chờ ở ngoài rất đông. Chị chỉ nghĩ chắc họ đến đưa tin về việc thăm trại cải huấn của quốc trưởng bù nhìn Phan Khắc Sửu vì phía bên trong, biểu ngữ “chào đón” đã giăng lòe loẹt.

Khi chị bước ra khỏi cổng ngoài thì là lúc cổng đóng sầm lại. Tên gác cổng nhìn chị rất khác thường, hỏi lần này vào có gặp chồng không? Chị bảo hôm nay trại cải huấn có khách nên chiều vô gặp. Tên gác cổng nhìn theo từng bước chân chị, rồi lắc đầu.

Ra đến bãi gửi xe, chị giữ xe đạp cũng hỏi vào có gặp chồng không? Chị cũng trả lời y như trả lời với tên gác cổng. Chị giữ xe bảo: “Tụi nó gạt em đó. Lát nữa chúng sẽ đưa chồng em ra xử bắn!”. Chị bàng hoàng, không tin vào tai mình. Đúng lúc đó, những người bán dạo phía ngoài trại giam xui chị vào đập cửa. Chị chạy lại, hết đập rồi gào thét nhưng cánh cửa vẫn đóng im lìm.

Chị gục đầu vào cánh cửa. Chị giữ xe lại khuyên chị, thôi thì đằng nào cũng đã thế rồi, hãy về báo cho gia đình biết chứ đứng ở đây chúng cũng không cho vào.

Chị về nhà báo cho ba anh Trỗi. Mấy ngày trước, đọc tin con sẽ bị xử trên báo, ông vội vàng vào Sài Gòn xem thực hư thế nào. Trước đó, chị có mời một luật sư bào chữa để anh được giảm án. Chị và ba chồng vội vàng đến gặp vị luật sư kia, vị luật sư này lấy làm bất ngờ: “Sao lại thế này nhỉ? Họ bảo vụ này tạm hoãn, đâu có xử hôm nay?”.

Luật sư điện vào khám Chí Hòa, câu trả lời là vừa xử xong. Đến giờ, khi thuật lại câu trả lời của nhà tù năm ấy, chị đưa hai tay ôm lấy mặt. Cái cảnh tượng đó như vừa mới xảy ra. Chị run run lau nước mắt.

Khi chị nhờ ông luật sư nhắn qua điện thoại, là muốn xin thi thể anh về mai táng, đầu dây bên kia trả lời, việc của họ là chỉ biết thi hành, còn chuyện cho thi thể phải qua Tòa án quân sự. Hai cha con vội vàng qua tòa án, lại nhận được câu trả lời, Tòa án quân sự không xử vụ này. Nơi xử, là tòa án mặt trận Vùng 3 chiến thuật.

Hai cha con lại đi xích lô đến nơi cũng là lúc hết giờ làm việc. Chúng hẹn hai cha con, hoặc là về chiều quay lại, hoặc là chờ cho đến chiều. Đến giờ, tên quan ba trả lời lạnh lùng, rằng ở đây chỉ biết việc kết án. Còn việc xin thi thể, thì qua bên quân vụ thị trấn.

Hai cha con tới đó. Câu trả lời lại là: “Cô và bác thông cảm. Anh em lỡ đưa đi chôn rồi mà không hề cho biết chôn ở đâu”.

Chị đứng phắt dậy quát: “Các ông giết chồng tôi. Giờ cái xác các ông cũng không cho nữa. Các ông ra lệnh chôn ở đâu thì binh lính của các ông đem đi chôn ở đó, sao lại nói vô trách nhiệm là không biết?”.

Chúng bảo hai cha con đi về, vài ngày nữa chúng sẽ cho biết. Hai cha con nghĩ, giờ có hỏi cũng chỉ gặp những câu vòng vo, mà chờ thì không biết đến khi nào, thôi thì đi tìm khắp các nghĩa trang của thành phố. Hết nghĩa trang Đô Thành đến Bách Việt và một nghĩa trang nữa, hỏi người quản trang cũng chỉ nhận được câu trả lời là không thấy, không biết. Chị gục đầu xuống đất gọi tên anh, nhưng cũng chỉ là sự im lặng.

Qua ngày hôm sau, có tờ báo đăng tỉ mỉ việc anh Trỗi ra pháp trường, anh gọi tên Bác Hồ như thế nào. Tờ báo đó chụp tất cả hình ảnh của anh Trỗi, và cũng thông tin rằng, sau khi xử bắn, địch chôn anh ở nghĩa trang quân đội tại Gò Vấp. Sau đó, gặp rất nhiều ý kiến phản đối, sao Việt Cộng lại nằm chung một nghĩa trang với lính Cộng hòa? Thế là chiều hôm ấy, chúng đưa anh đem chôn tại nghĩa trang Đô Thành.

Hai cha con lại “lùng sục” khắp nghĩa trang này, thấy có 3 ngôi mộ nằm cạnh nhau, đều đất mới như nhau. Chị cầu khấn: “Anh ở đâu trong 3 nấm mộ này, chỉ cho em và ba đi anh ơi!”. Rồi chị như tỉnh ra, bảo với ba chồng: “Người Việt mình có tục mở cửa mồ. Chờ qua 3 ngày nữa ba con mình tới đây, nếu hai ngôi mộ kia đã có người mở cửa, thì ngôi còn lại chắc chắn là của anh ấy”.

Đúng ba ngày sau, chị cùng hai người cháu đến. Có hai ngôi mộ đã được gắn bia. Chị quỳ xuống và gần như kiệt sức…

Mối tình đẹp tiếp nối quá khứ

Chị có một gia đình hạnh phúc, một người chồng hết mực yêu thương chị và hai người con ngoan ngoãn, thành đạt. Để có được điều đó, phải từ nhiều yếu tố nhưng chắc chắn có bàn tay chăm lo của chị.

Nâng niu những kỷ vật của anh Trỗi trên tay, tôi thấy những giọt nước mắt lăn dài trên gò má chị. Chị bảo, bao nhiêu năm rồi, những điều rất ân hận với anh Trỗi vẫn còn đè nặng tâm hồn chị.

Chị cho tôi xem tấm ảnh chụp lại chiếc khăn chị thêu cho anh khi anh ở tù. Tấm khăn tay mấy dòng chữ: “Dù cho sóng gió bão bùng/ Lòng em vẫn giữ thủy chung vẹn toàn/ Cầu mong anh được bình an/ Nước nhà thống nhất vinh quang anh về”. “Như niềm an ủi trong cuộc sống của tôi. Lúc nào buồn, hay nghĩ về anh, tôi lại lấy tấm ảnh chụp cái khăn này ra ngắm” – chị nói.

Phía sau tấm ảnh, những dòng chữ của chị mới viết hồi tháng 11/2005: “Anh! Đọc những câu thơ này em thấy có lỗi với anh. Em đã không giữ lại giọt máu của anh. Hồi đó em khờ quá không đi bệnh viện. Em đã đánh mất đứa con của chúng mình. Em đã nói dối anh khi ở khám tử hình. Anh hỏi em có thai phải không? Em trả lời không có, chứ không dám nói thật sợ anh buồn. Em cũng đã không giữ được lòng chung thủy với anh. Hãy tha lỗi cho em…”.

Tôi lặng người trước những dòng tâm sự của chị. Tôi hiểu lắm, cái nhìn của chị ra ngoài cửa sổ, khi cho tôi xem những dòng chị viết. Có những nỗi đau như cái gai ở chân, dù lấy ra rồi nhưng nghĩ lại vẫn thấy nhói buốt. Nhưng biết đâu ngày ấy, nếu chị nói thật với anh, thì giờ nỗi ân hận lại nhiều thêm?

Tôi thực sự bế tắc khi mã giải tâm hồn chị. Nhưng làm sao mà giải được, khi mấy chục năm trời, đáp số của chị vẫn là nỗi im lặng vô hình, như một sự quỳ gối trước vết thương…

Chị uống rất nhiều nước. Cứ năm phút, thấy chị nhấp một ngụm. Chị bảo, cái thói quen này được hình thành từ khi yêu anh Trỗi chứ trước đó, chị rất ít uống nước.

Nhưng ăn thì ngược lại, cứ phải chan canh đầy hơn cơm mới lùa được. Thói quen đó cùng với việc ít chịu uống nước đã không ít lần ba chị nhắc nhở, nhưng vốn “tính bướng”, lại hay tự ái nên hai điều ấy suốt một chặng đời không thể sửa được.

Chị không bao giờ nghĩ anh Trỗi vắng mặt trong cuộc sống của chị. Những bức thư, những tấm ảnh cũ, thỉnh thoảng chị lại lấy ra xem, rồi lặng lẽ viết thêm vài dòng, có khi vài chữ cho anh bên cạnh kỷ vật ấy. Giờ tóc đã phai, nghỉ hưu cũng đã lâu, thỉnh thoảng chị vẫn vòng xe qua địa điểm mà hồi trước anh hay đón chị sau những giờ tan ca.

Chị nhớ lại cách đây 2 năm, có dịp ra Hà Nội, chị háo hức đến Bảo tàng Cách mạng để xem những kỷ vật của anh Trỗi. Chị bất ngờ khi đọc trong lá thư anh chưa gửi, anh buồn về chị chuyện gì đó. Bây giờ chị vẫn tự hỏi mình, hồi đó mình làm gì để anh buồn thế?

Rồi chiếc đàn mandoline, gắn với tình yêu suốt một năm trời của hai người. Khi anh hy sinh, chị vẫn giữ cây đàn đó cho đến khi chị vào chiến khu, cây đàn được chuyển ra Bắc. Bao nhiêu năm, câu chuyện tưởng như ngủ yên thì những kỷ vật lần nữa lay trong chị biết bao nỗi niềm.

Về Sài Gòn, chị lặng lẽ viết nhật ký: “Đây là chiếc đàn mandoline của anh… Nhìn cây đàn, em nhớ lại buổi đầu chúng mình mới quen nhau, anh đã đàn cho em nghe và hát cho em nghe nữa. Anh hỏi em: “Tư đàn và hát có hay không?”. Em nói, Tư đàn, Q nghe hay. Còn Tư hát, Q nghe pha tiếng miền Trung nhiều hơn khi nói chuyện…

Nghe anh nói, em càng thương anh nhiều. Ở cõi vĩnh hằng, anh có nghe em nhắc lại chuyện cây đàn không? Anh hãy nói với em đi, anh đã hết giận em rồi phải không, anh?”.

Cuốn nhật ký ngày một dày thêm. Những dòng chữ hơi run nét, gợi lại những chuyện rất nhỏ đằng sau một người anh hùng. Dù là lần đầu tiên, cho một người khách lạ, lại thuộc thế hệ con cháu như tôi xem, chị vẫn thoảng chút ngại ngần. Từng dòng, từng dòng qua đi. Tôi ngước lên, từ bao giờ, mắt chị lại rơm rớm.

Vậy đấy, một quá khứ đã đằm sâu và con chị hôm nay sẽ nghĩ sao? Và dù ít dù nhiều, những điều ấy khó có thể không làm tổn thương hoặc ít nhiều đảo lộn cuộc sống hiện tại?

Chị bảo rằng chị ngại lắm, sợ chồng tổn thương bởi những lần đi ăn tiệc cùng chồng, bạn bè bắt tay chị rồi giới thiệu với những người xung quanh: “Đây là chị Quyên – vợ anh Trỗi”. Chị tái mặt, cúi đầu xuống. Một lúc sau biết mình lỡ lời, người giới thiệu nói: “Và bây giờ là vợ anh Dũng”. Anh Dũng mỉm cười, cầm cốc chạm với mọi người như thể chẳng có chuyện gì xảy ra.

“Thế anh Dũng không bực mình, không khó chịu?” – tôi hỏi chị. “Nói thật là những lúc như vậy, tôi không dám hỏi hoặc đề cập thêm điều gì. Quá khứ của tôi anh Dũng rất trân trọng. Nhưng những chuyện ngoài ý muốn kia, có những lúc tôi phải quên đi. Nhiều lần cũng định hỏi anh, nhưng bao năm rồi cũng cứ thế, không hỏi” – chị đáp. “Xin hỏi thật, anh Dũng có ghen với quá khứ của chị không?”. “Anh có ghen hay không, anh cũng không nói ra. Chẳng biết anh có ghen hay không nữa”.

Đúng lúc ấy, một người đàn ông từ trên nhà bước xuống. Tôi cũng chẳng ngại ngần xin phép được nói chuyện với anh đôi chút về cuộc sống của anh chị sau cái bóng quá lớn của một quá khứ hào hùng gắn chặt với người vợ của anh.

Một chút nghi ngại trước một câu hỏi hơi thẳng thắn, anh cũng thẳng thắn: “Nguyễn Văn Trỗi là một danh từ chung rồi, trước hết, anh ấy là đồng chí của tôi, chính tôi cũng rất tự hào về anh ấy. Còn chuyện riêng của vợ tôi, nói là riêng, nhưng là một chuyện riêng đẹp, phần nào cũng đứng cạnh, bổ trợ cho cái danh từ chung ấy, nên tôi hoàn toàn tôn trọng. Còn ghen với quá khứ, tôi nghĩ là chẳng bao giờ!”.

Anh bảo, anh đến với chị Quyên ban đầu từ sự nể phục sự chịu đựng đớn đau của chị. Và anh chọn chị, cũng bởi vì anh đã từng qua một đời vợ. Giờ đây hai mảnh vỡ ghép lại đã mấy chục năm, thành một hạnh phúc.

“Tôi không buồn khi người ta giới thiệu “Chị Quyên, vợ anh Trỗi”. Chị Quyên – vợ anh Trỗi, điều đó đúng chứ, điều đó cũng đáng tự hào chứ. Còn chị Quyên, vợ anh Dũng thì cần gì phải giới thiệu nhiều, đó là cuộc sống hiện tại, về những gì đã và đang diễn ra. Vấn đề chính là cách ứng xử với quá khứ như thế nào, và cách sống với hiện tại ra sao” – anh Dũng tiếp

Cũng theo anh Dũng, anh hoàn toàn hài lòng với sự trân trọng quá khứ của vợ. “Chỉ sợ là cô ấy quên, chứ cô ấy nhớ thì tốt quá”. Và cái quan trọng với anh, là mấy chục năm rồi, chị Quyên luôn chia sẻ với anh, vun đắp gia đình và nuôi dạy con cái đến nơi đến chốn.

Anh Dũng cũng bảo, việc chị viết nhật ký, nghĩ về những kỷ niệm cũ với anh Trỗi, đó là những nỗi niềm riêng của vợ, anh hoàn toàn cảm thông, chia sẻ và tôn trọng.

Còn với anh Nguyễn Văn Trỗi, anh Dũng coi như người anh của mình. Ba anh Trỗi anh cũng coi như cha mình và gia đình anh Trỗi cũng coi anh Dũng như con cháu. Lần nào đi công tác ngoài Bắc, anh Dũng cũng ghé qua Quảng Nam. “Trong gia đình chúng tôi, chẳng bao giờ có sự phân biệt quá khứ với hiện tại. Vì quá khứ hay hiện tại đã chung một mái nhà” – anh Dũng tâm sự.

Anh chị thường xuyên về Quảng Nam. Ở đó, gia đình anh Trỗi vẫn coi chị như cô con dâu năm nào, vẫn “thím Tư”, “chị Tư” thân mật. Hồi ba anh Trỗi còn sống, cụ rất hay vào chơi với gia đình anh chị. Gia đình chị vẫn tổ chức đám giỗ cho anh Trỗi hàng năm. Những năm cụ còn, đến ngày giỗ anh Trỗi, anh chị đón cụ vào dự đám giỗ anh, rồi đưa cụ ra thăm mộ anh Trỗi.

Chị Quyên kể tiếp chặng đời của chị sau khi anh Trỗi hy sinh và trước khi chị gặp anh Dũng như thế nào. Gượng dậy từ nỗi mất mát lớn, chị nằng nặc xin ba chồng được ở Quảng Nam tham gia cách mạng. Thương con dâu, ông nói: “Nếu con muốn đi thì phải được sự đồng ý của ông bà trong đó. Nhưng ba khuyên là không. Thân con gái, đi chiến trường cực lắm. Chồng lại vừa mới hy sinh”.

Chị vẫn quyết đi. Chị viết thư về cho ba mẹ ở Sài Gòn, bảo rằng sẽ ở lại Quảng Nam kiếm một việc gì đó làm, nhưng gần cả tháng trời không thấy hồi âm.

Chị cứ ở lì quê chồng như vậy, không chịu về Sài Gòn. Cuối cùng, ba chồng bảo: “Nếu con muốn đi, con cứ về Sài Gòn đã, xin phép ba mẹ đàng hoàng rồi ra tết con trở lại đây đi cũng chưa muộn”.

Trở về Sài Gòn, chị tìm đến gặp vợ anh Tư Kiếm, tổ trưởng tổ 4 người của anh Trỗi để hỏi xem anh Trỗi tham gia cách mạng từ khi nào, và vì sao anh lại bị bắt. Nhưng khi vào, không gặp được anh Tư Kiếm. Anh Phạm Văn Hai tiếp chị. Anh Hai kể rằng, tổ không hề muốn anh Trỗi tham gia trận đánh ngày hôm đó vì nghĩ anh Trỗi mới cưới vợ nhưng anh vẫn khăng khăng đi cho bằng được.

Theo kế hoạch, anh Trỗi ngồi trên nhà vệ sinh công cộng, điều chỉnh cuộn dây. Tư Lời bơi xuống kênh, kéo dây sang bờ bên kia kết nối với dây điện để gây nổ khi MacNamara đến. Lúc Tư Lời đang kéo dây sang bờ bên kia, một tên lính phát hiện ra anh Trỗi trong nhà vệ sinh, có nhiều dấu hiệu tình nghi thì lập tức hô hoán binh lính đến bắt anh và Tư Lời.

Hiểu được thêm một số sự việc quanh sự hy sinh của chồng, trong lòng chị càng muốn thoát ly theo cách mạng. Đúng 30 tết năm 1965, chị gia nhập đơn vị của chồng, vào căn cứ hoạt động. Nhưng tổ chức nghĩ rằng anh Trỗi đã hy sinh, nên chọn cho chị Quyên một công tác phù hợp, chứ không cho chị chiến đấu.

Thời gian này, tại căn cứ, chị được gặp nhà báo Trần Đình Vân. Qua câu chuyện của chị về những lần gặp gỡ ở khám Chí Hòa, nhà báo Trần Đình Vân đã viết cuốn truyện ký “Những lần gặp gỡ cuối cùng”, về sau được đổi tên thành “Sống như anh”.

Ban đầu, chị hoạt động ở chi hội phụ nữ của đơn vị, sau đó được cử đi học bổ túc rồi học y sĩ 2 năm để về phục vụ đơn vị. Năm 1969, chị được ra Bắc mừng sinh nhật Bác Hồ, đó cũng là sinh nhật cuối cùng của Người. Một cuộc gặp gỡ đầy xúc động. Lúc đó, Bác đã yếu lắm. Bác cho phép tất cả những người con của miền Nam được ở lại miền Bắc học văn hóa.

Khi ra Bắc, chị gặp lại một người đã từng thấy “loáng thoáng” ở căn cứ những ngày đầu chị mới thoát ly, đó là anh Lê Tâm Dũng. Lúc đó, có nhiều người theo đuổi chị nhưng chị lại thấy cảm mến anh Dũng. Chị bảo, chị mến anh bởi hai lẽ, thứ nhất, anh là người quê hương Đồng khởi Bến Tre, thứ nhì, anh đã lăn lộn tham gia chiến dịch Mậu Thân 1968.

Tìm hiểu nhau một thời gian, họ tiến tới hôn nhân. Chị bảo rằng, cuộc sống cũng có nhiều lúc thế nọ thế kia, nhưng sống với anh Dũng hơn 30 năm qua, chị thực sự tìm thấy một điểm tựa trong cuộc sống. Những yêu thương, quan tâm không bao giờ anh nói ra. Anh tôn trọng và chấp nhận những lựa chọn của vợ.

Học xong bổ túc văn hóa ở miền Bắc, năm 1976, chị thi vào Đại học Kinh tế TP HCM. Khi ra trường, chị về làm việc cho Công ty Du lịch Sài Gòn. Ban đầu, chị nhận công việc ở dưới cơ sở, quản đốc một nhà hàng của công ty.

Từ một cô công nhân trình độ lớp 3, được học đến đại học, công ăn việc làm đàng hoàng, lại có một gia đình đầm ấm, đó là những điều không phải phụ nữ nào cũng có được.

Giờ nhìn lại chị thấy cuộc sống quá ưu ái với mình. Chị tâm sự: “Nói thật, mấy chục năm qua hình bóng anh Trỗi luôn trong tôi, nhắc tôi phải giữ mình. Tôi làm việc hết trách nhiệm, và hoàn thành tốt mọi thứ. Cũng có người hỏi tôi thân quen với nhiều đồng chí lãnh đạo, sao không nghĩ đến cái lớn hơn công việc của một nhân viên, tôi cũng chỉ nghĩ, anh Trỗi, cả cuộc đời còn không tiếc. Mình làm gì sai, sẽ lại có lỗi với anh”.

Chị là người tiết kiệm. Mà người tiết kiệm thường quý những gì là của mình, do mình làm ra, kể cả hạnh phúc. Chị có hai người con. Khi các con lên đến lớp 6, anh chị không tổ chức sinh nhật cho con nữa. “Nếu cứ chiều con, các con không biết tiết kiệm từ bé sẽ rất nguy hiểm và nguy cơ không tự lập được”.

Đến giờ, chị thấy làm vậy là đúng, vì các con của chị đã biết tự lập. Người con trai hiện giờ công tác ở Công an quận 1, cô con gái đang là sinh viên năm thứ nhất.

Các con chị rất trân trọng quá khứ của mẹ, gọi anh Trỗi là “ba Trỗi”. Có lần, chị không cầm lòng được khi cô con gái gom tiền ăn sáng lại mua tặng mẹ cuốn “Sống như anh” khi vừa tái bản. “Cảm ơn con gái. Quá khứ không mất đi, nó sẽ còn trong hiện tại và càng đẹp hơn nếu ta sống đẹp hơn trong hiện tại, con ạ” – chị đã nói với con mình như vậy…

Hoàng Nguyên Vũ (báo An Ninh Thế Giới)

 
Gửi ý kiến

Chùm ảnh hoạt động