MỜI QUÝ VỊ TRUY CẬP WEBSITE MỚI TẠI ĐỊA CHỈ:http://nguyenvantroi.pgdtamky.edu.vn
Gốc > Thư giản >

Bảo mật quốc gia dưới triều Lê Thánh Tông

Bảo mật quốc gia dưới triều Lê Thánh Tông

Bất kỳ quốc gia nào, ở mọi thời đại; muốn hưng thịnh và phát triển, đều phải coi trọng vấn đề bảo mật. Đây là nguyên tắc thể hiện tính nghiêm minh của quốc pháp.

Ở Trung Quốc, năm Vĩnh Lạc thứ mười tám (1420), vua Minh Thành Tổ (Chu Nguyên Chương) có sắc chỉ thiết lập cơ quan đặc vụ, do thám, tình báo với mật danh Đông Am " (chùa phía đông), do một đại thần phụ trách và thường xuyên trực tiếp trình tấu hoàng đế những công việc cơ mật liên quan tình hình an ninh của đất nước. (1)

Nước ta, dưới triều đại Lê Thánh Tông - một vương triều thịnh trị và đầy những võ công hiển hách - có không ít quy định cụ thể trong vấn đề bảo mật. Nội dung các chiếu lệnh do nhà vua ban hành, đề cập nhiều phương diện khác nhau của đời sống xã hội; chủ yếu như:

1. Về thông tin và các việc của nội điện, để đề phòng tin đồn thất thiệt trong nhân dân, có thể gây dư luận xấu, ảnh hưởng tới uy phong của triều đình; ngay trong năm Quang Thuận thứ nhất (1460), tháng 7, nhà vua chỉ dụ đến tất cả các quan nha, nội nhân thuộc Ty Nội mật được biết: "Từ nay về sau nếu thấy chiếu chỉ và các việc trong cung, không được tiết lậu ra trước cho người ngoài và vợ con họ hàng biết"(2). Đến tháng 4/1463, Quang Thuận thứ tư, vua lại có chỉ dụ: "... cấm nội quan và con gái ở trong cung không được kết bạn với người ngoài, nói chuyện với nhau, cùng nhau đùa bỡn"(3). Ngoài ra, tháng 12/1476, Hồng Đức thứ tám, vua sắc dụ các quan văn võ răn đe, phòng ngừa hậu quả từ việc giao tiếp hàng ngày giữa các viện, ty, sảnh, cục: "Người nào không phải thân thuộc của hai vệ Cẩm y, Kim ngô và các vệ ty Thần vũ, Điện tiền, Hiệu lực, Tráng sĩ mà mượn cớ tặng biếu, đi lại ăn uống, cầu kết bạn thân, cùng là người trong các vệ ty mà kết bạn với họ, đều phải bắt giao cho đình uý xét tội. Quan ngoài mà kết bạn với quan trong nội thì xử tội chém. Quan cai quản không biết xét tâu lên thì xử tội lưu (4).

2. Về an ninh phục vụ việc tuần du hoặc ngự giá thân chinh của nhà vua, tháng 10/1470, Hồng Đức thứ hai; nhà vua ban bố chính lệnh gồm 52 điều; trong đó ghi rõ: "...định lệnh xa giá đi đâu không ai được nói phao hoặc giả trá"(5).

3. Về quan hệ đối ngoại, nhà vua chỉ dụ cho các quan phủ, lộ, trấn, châu, huyện: "Ai ở cõi biên giới thì phải giữ quan ải cẩn thận, không được thông đồng với người nước ngoài” (6).

Để tăng hiệu lực thi hành những điều khoản trên; vị vua này, ban bố kèm theo một số văn bản liên quan lề lối làm việc của đội ngũ quan lại: tháng 12/1463, Quang Thuận thứ tư, Lê Thánh Tông ban chiếu đối với các quan địa phương trong việc về chầu tại kinh sư: "... cấm quan làm việc bên ngoài vô cớ về Kinh dâng bản tâu” (7), và yêu cầu: "Quan các vệ sở năm phủ sau khi tan chầu đều phải về nha môn của mình để bàn luận việc quan, không được như trước ngồi họp bàn luận ở ngoài rèm..."(8). Như vậy, cách đây hơn 500 năm; về mặt cai trị, nhà vua đã coi trọng hiệu quả thực tiễn, hạn chế tối đa tình trạng lãng phí thời gian cùng thói hư tật xấu dễ nảy sinh.

Bên cạnh việc quy định chặt chẽ đối với các lĩnh vực như trên, Lê Thánh Tông còn xử phạt thích đáng các đại thần không làm tròn phận sự trong quá trình thực thi nhiệm vụ những việc cơ mật. Chẳng hạn, về vụ án Nghi Dân; nhà vua bác thẳng thừng bản tâu của tể tướng Lê Xí và kết tội nghiêm khắc Lê Ngang, Lê Thụ, chỉ huy quân cấm vệ vào thời điểm đó: "... tính việc không cẩn mật đến nỗi phải phơi thây ở cạnh đường” nên tuy đã mất nhưng vẫn không được dự vào hàng công thần (9).

Bản thân Lê Thánh Tông cũng tự răn dụ, khi nhắc nhở trách nhiệm của quan Tả Thị lang Binh bộ Nguyễn Đình Mỹ: "Pháp luật là phép công của nhà nước, ta cùng các ngươi phải cùng theo..." (10). Lê Thánh Tông còn nổi tiếng là một vị vua chăm chỉ như ông từng tự thuật: "Mựa yểu áo vàng chăng có việc" và: "Lòng vì thiên hạ những sơ âu/ Thay việc trời dám trễ đâu/ Trống dời canh còn đọc sách/ Chiêng xế bóng chửa thôi chầu"(l l).

Những việc làm của vị vua hùng tài thao lược, có công lớn đối với đất nước; đến nay còn vẹn nguyên ý nghĩa thời sự.

__________

(l): Trương Dược Minh (chủ biên): "Hoạn quan Trung Hoa (Bí sử về thái giám các triều vua)", tập 7, Nhà Xuất bản Hội Nhà văn, Hà Nội, 2002; tr.90. 2): "Đại Việt sử ký toàn thư” (tập 2, quyển XII, kỷ nhà Lê) - Nhà Xuất bản Văn hoá Thông tin, Hà Nội 2004; tr. 242. (3): Sách đã dẫn, tr. 244. (4): Sách đã dẫn, tr. 255. (5): Sách đã dẫn, tr. 260 (6): Sách đã dẫn, tr. 245. (7): Sách đã dẫn, tr. 267 (8): Sách đã dẫn, tr. 358. (9): Sách đã dẫn, tr.315 (10): Sách đã dẫn, tr.259. (11): Bùi Văn Nguyên: “Tư liệu tham khảo văn học Việt Nam tập II (từ thế kỷ XI đến giữa thế kỷ XVIII) – Nhà Xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 1979; tr.232.

Trịnh Tuấn Anh

(Văn phòng Hội đồng Khoa học các cơ quan Đảng Trung ương)


Nhắn tin cho tác giả
Bùi Thị Diễm @ 14:02 21/03/2009
Số lượt xem: 593
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến

Chùm ảnh hoạt động